Tết cung đình, sông nước và mây ngàn
Việt Nam mình lạ lắm, và thương lắm! Chỉ một chữ "Tết" thôi mà mỗi nơi một vẻ, muôn hình vạn trạng như những mảnh gốm đa sắc.
Có cái Tết nền nã, ý nhị bên dòng sông Hương thơ mộng. Có cái Tết ngửa mặt cười vang, hào sảng bên dòng Cửu Long cuộn sóng. Và có cái Tết bồng bềnh, phiêu lãng trong mây ngàn gió núi rẻo cao.
Nơi mùa Xuân được "điêu khắc" bằng sự tĩnh lặng
Nếu ví Tết rực rỡ như người phụ nữ xuân thì, thì Tết Huế đích thị là "một bà hoàng" bước ra từ bức mành tre cung đình xưa: đài các, kiêu sa, kín đáo.
Tôi trở về Huế đúng vào những ngày "tháng Chạp mưa dầm". Cơn mưa bụi không ồ ạt, như lớp sương khói mỏng tang, hư ảo "rây bột" lên những mái ngói lưu ly đã nhuốm màu thời gian và phủ lớp rêu xanh rì của Đại Nội. Ở đây, Tết không có tiếng còi xe inh ỏi hay nhạc Xuân xập xình. Tết Huế đi rất nhẹ trên những đôi guốc mộc, nói rất khẽ bằng chất giọng "dạ, thưa" ngọt lịm, và thở bằng nhịp thở trầm mặc của cố đô văn vật.

Cây nêu được rước trong Hoàng cung Huế để làm lễ trồng tại Thế Tổ Miếu, nơi thờ các vị Vua nhà Nguyễn. Ảnh: Đỗ Trưởng - TTXVN
Người Huế ăn Tết bằng mắt, bằng tâm niệm thiêng liêng rồi mới đến cái miệng trần tục. Hãy nhìn mệ tôi ngồi làm mứt gừng - một nghi thức "luyện khổ" để tìm lấy vị ngọt. Những củ gừng cay xé lưỡi, được mệ cạo vỏ sạch bong, ngâm nước chanh cho trắng nõn nà. Đôi bàn tay nhăn nheo của mệ cầm cây nĩa, tỉ mỉ xăm hàng ngàn mũi nhỏ li ti lên lát gừng, đều đặn như nhịp thở, để cái cay gắt gao dịu đi, nhường chỗ cho đường phèn thấm sâu vào thớ thịt.
Rồi mệ ngồi bên bếp than hồng, sên mứt cả buổi chiều mưa lạnh. Lửa phải riu riu, tay đảo phải nhẹ như múa, để khi bắc ra, lát mứt gừng không được cong queo mà phải thẳng thớm, phẳng phiu như tờ giấy điệp, màu vàng óng ả trong suốt như hổ phách. Cắn một miếng, vị cay nồng ấm sực tan chảy quyện với vị ngọt thanh tao, nghe như cả mùa Xuân ấm áp bừng lên trong khoang miệng.
Mệ cười, nụ cười móm mém sau làn khói bếp: "Làm rứa mới là Tết con nờ. Ăn miếng mứt không phải để no cái bụng, mà để thấm cái tình, cái công phu tu dưỡng của người phụ nữ trong nớ".

Gói bánh chưng trong chương trình "Phong vị Tết Huế" ở Cung Trường Sanh - Đại Nội Huế. Ảnh: Đỗ Trưởng - TTXVN
Cái câu "Rứa mới là Tết" ấy, nó là một tôn chỉ, một "đạo luật" bất thành văn của vùng đất Cố đô. Mâm cỗ Tết Huế vì thế mà trở thành một cuộc triển lãm nghệ thuật sắp đặt cầu kỳ. Đĩa bánh in ngũ sắc bọc giấy bóng kính vuông vức. Bát canh măng hầm chân giò nước phải trong vắt như lọc qua suối nguồn, không được vương một chút váng mỡ thừa. Ngay cả cành hoàng mai cắm trong chiếc độc bình cổ cũng phải được uốn tỉa theo thế "Long giáng" uy nghi hay "Trực quân tử" thanh cao, chứ không được mọc tua tủa tự nhiên.
Người Huế đón Tết không phải là cuộc vui chơi, mà như thực hiện một nghi lễ thiêng liêng. Sáng mùng Một, trong không gian thơm nồng mùi trầm hương, đàn ông mặc áo dài ngũ thân, đầu chít khăn đóng, dáng đi khoan thai, đĩnh đạc. Lời chúc Tết thốt ra cũng điển tích, ý nhị.
Đứng giữa Tết Huế, tôi bỗng thấy mình nhỏ bé lại, khép nép hơn. Tôi chạm tay vào một tầng sâu văn hóa, nơi người ta sợ sự xô bồ như sợ một vết ố, nơi người ta gìn giữ lề thói cũ như giữ một ngọn đèn dầu cổ trước gió: Mong manh, leo lét, nhưng cháy bền bỉ lạ thường bằng thứ dầu của lòng tự trọng và niềm kiêu hãnh hoài cổ.
Mùa Xuân "hào sảng" giữa sông nước
Rời khỏi cái thâm trầm, u tịch của những đền đài rêu phong xứ Huế, chuyến xe đưa tôi lao vút về phương Nam. Và trời ơi! Cảm giác như tôi vừa bước ra từ một ngôi chùa cổ kính thâm nghiêm để bước vào giữa một khu chợ nổi ngập tràn âm thanh và sắc màu!
Nếu Tết Huế là sự "giữ mình", thì Tết miền Tây không có khái niệm "giữ kẽ". Ở đây, Tết là phải "xả láng", là phải "chơi tới bến". Cái nắng vàng phương Nam những ngày giáp Tết không hanh hao mà vàng ươm, đặc quánh như mật ong rót tràn xuống những dòng kênh rạch chằng chịt. Gió chướng phóng túng thổi lồng lộng, mang theo hơi nước mặn mòi của phù sa, làm tung bay tà áo bà ba màu cánh sen, màu mạ non của những cô gái miệt vườn đang chèo xuồng đi chợ nổi.

Đường gốm và hoa thuộc phường Long Châu - tỉnh Vĩnh Long rực rỡ mỗi dịp Tết đến. Ảnh: Lê Thúy Hằng - TTXVN
Tết Huế là sự "tinh tuyển", thì Tết miền Tây là sự "hào sảng". Người miền Tây không gói bánh chưng vuông vức, họ gói đòn bánh tét tròn dài, đầy đặn. Những đòn bánh tét to và chắc nịch như bắp chân của người nông dân lực điền, bên trong lèn chặt nếp dẻo, nhân chuối ngọt lịm hay nhân mỡ đậu xanh béo ngùi. Họ quan niệm đơn giản mà sướng tai: "Đất trời bao la, làm cái gì cũng phải to, phải đầy, ăn nó mới đã cái nư!".
Tôi ám ảnh mãi bữa nhậu chiều 30 Tết lênh đênh trên chiếc ghe bầu dập dềnh sóng nước. Chú Ba - người chủ ghe có nước da bánh mật bóng loáng - lôi từ trong khoang thuyền ra hũ rượu đế ngâm chuối hột ngả màu hổ phách. Chú cười, tiếng cười hào sảng vang động cả một khúc sông, át cả tiếng máy đuôi tôm nổ giòn giã: "Tới đâu hay tới đó bay ơi! Năm nay trúng mùa tôm, nhậu ba ngày ba đêm cho tao! Không say không về, mà say rồi thì... ngủ luôn trên ghe!".
Mâm cỗ Tết miền Tây tuyệt nhiên không có sự cầu kỳ, bày vẽ kiểu "Long - Ly - Quy - Phụng". Nó thực tế, chân chất và phóng khoáng y hệt tính cách con người nơi đây. Đó là tô thịt kho hột vịt, nấu bằng nước dừa xiêm tươi. Miếng thịt ba rọi được kho rục, phần mỡ trong veo, rung rinh như miếng thạch anh, đưa vào miệng là tan chảy cái vị béo ngậy, ngọt ngào. Để "đưa cay", không thể thiếu đĩa tôm khô củ kiệu. Củ kiệu trắng phau, giòn rụm, chua thanh kẹp với con tôm khô đỏ au, mặn mòi, tạo thành một "cặp đôi hoàn hảo" nơi đầu lưỡi. Bên cạnh là rổ rau sống, chuối chát, khế chua xanh mướt vừa hái sau vườn nhà, còn đẫm sương đêm.
Khách đến nhà, bất kể thân sơ, quen lạ, câu đầu tiên không phải là những lời chúc tụng văn hoa, mà là một mệnh lệnh của trái tim: "Vô làm ly đi chú em! Nhậu cái đã rồi tính!". Cái tình của người miền Tây nó nằm ở cái ly rượu rót đầy tràn đến miệng, ở cái vỗ vai đôm đốp đau điếng mà thân thương, ở nụ cười rạng rỡ khoe hàm răng trắng lóa trên khuôn mặt sạm nắng.
Ở đây, Tết xóa nhòa mọi biên giới. Không còn chủ - khách, không còn giàu - nghèo. Chỉ còn lại những con người chân chất, ngồi xếp bằng tròn bên nhau giữa mênh mông sông nước, gõ muỗng vào chén sành ca một câu vọng cổ "buồn đứt ruột" về tình anh bán chiếu, mà lạ thay, lòng người lại thấy vui phơi phới, nhẹ tênh như cánh lục bình trôi...
Và mùa Xuân ngủ trên lưng chừng trời
Và cuối cùng, để bức tranh Xuân này được vẹn tròn nét vẽ, tôi sẽ dắt tay bạn ngược ngàn lên Tây Bắc, nơi mùa Xuân không được tính bằng tờ lịch mỏng manh, mà được đo bằng những triền hoa mận, hoa mơ bung nở trắng xóa như mây trời sà xuống ngủ quên trên đá xám.

Những em nhỏ dân tộc Mông vui chơi dưới những cây mận đang thi nhau đua nở hoa trắng xóa. Ảnh: Quang Quyết - TTXVN
Tết của người Mông hay người Hà Nhì mang một vẻ đẹp nguyên sơ, hoang hoải và thuần khiết như thuở hồng hoang chưa vướng bụi trần. Ở đó, giữa cái rét ngọt cắt da, tôi thấy những người đàn ông mặt đỏ gay vì men rượu ngô, say sưa ngồi bên chảo thắng cố đang sôi sùng sục, bốc khói nghi ngút mùi thảo quả, quế hồi. Tiếng khèn bè, khèn môi không chỉ là âm nhạc, nó là tiếng lòng của đá núi, dặt dìu, khắc khoải gọi bạn tình vượt qua chín đèo mười suối để tìm về bên nhau.
Ở đó, Tết là một nghi lễ của sự biết ơn vạn vật. Tôi đã rưng rưng xúc động khi nhìn thấy chú gà trống đen dũng mãnh được dán một mảnh giấy đỏ tươi lên mào. Và kia nữa, ở góc nhà trình tường vàng óng, những cái cày, cái cuốc, con dao đi rừng... sau một năm ròng rã "đổ mồ hôi" cùng người trên nương rẫy, nay cũng được gia chủ trân trọng dán lên một tờ giấy đỏ. Chúng đang được "nghỉ Tết". Chúng nằm im lìm, thanh thản như những người bạn già tri kỷ được mời tham dự tiệc Xuân.
Một triết lý nhân sinh quan đẹp đến nao lòng! Với đồng bào vùng cao, vạn vật hữu linh. Con người không đứng cao hơn thiên nhiên để cai trị, mà cúi xuống để hòa tan vào thiên nhiên. Hãy nghe tiếng chày giã bánh dày "thình... thịch..." trầm hùng vang vọng giữa rừng già. Những chàng trai vạm vỡ dùng hết sức bình sinh giã nhuyễn nắm xôi nếp nương nóng hổi. Những chiếc bánh dày trắng muốt, tròn vo được nặn ra, tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời – bầu sữa vĩnh cửu nuôi sống đại ngàn.
***
Ba sắc màu Tết của ba miền, với những hương vị, sắc màu, phong cách rất riêng. Nhưng dù là phong thái vương giả hay dân dã, dù là cầu kỳ giữ kẽ hay phóng khoáng xả láng, thì tất cả những mảnh ghép ấy đều gặp nhau, khít lại ở một điểm chạm thiêng liêng: Đó là khát vọng trở về. Người Huế trở về với cội nguồn tiên tổ, với gia phong nề nếp. Người miền Tây trở về với đất đai hào phóng, với tình làng nghĩa xóm. Người vùng cao trở về với hồn thiêng núi rừng, với bản ngã hoang sơ.
Giờ đây, cầm trên tay miếng mứt gừng cay nồng ấm sực hay miếng tôm khô củ kiệu giòn tan, tôi giật mình nhận ra mình đang nếm trải không chỉ là món ăn. Tôi đang nếm cả một bề dày lịch sử ngàn năm, nếm cả vị mặn mòi của địa lý cha ông. Tấm bản đồ văn hóa kỳ vĩ ấy không được vẽ bằng giấy mực vô tri, mà được vẽ bằng tâm hồn của triệu triệu người con Việt Nam. Cứ mỗi độ Xuân về, hàng triệu trái tim ấy lại cùng nhau thắp lên một ngọn lửa - ngọn lửa của sự đoàn viên - xua tan mọi vất vả, lo toan của cuộc đời.
Thể thao và Văn hóa - Xuân Bính Ngọ 2026
