Di sản thế giới và tiềm năng du lịch văn hoá
Năm 2025 khép lại với một dấu mốc quan trọng trong đời sống văn hóa, khi chúng ta có thêm 2 di sản văn hóa được UNESCO vinh danh: Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ cùng Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.
Trong bối cảnh Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn 2045, một câu hỏi được đặt ra: Các di sản này đang mở ra những tiềm năng cụ thể nào, nhất là với du lịch văn hóa - lĩnh vực được kỳ vọng đạt doanh thu khoảng 31 tỷ USD vào năm 2030?

Chùa Đồng nằm ở độ cao 1068 m trên non thiêng Yên Tử (Quảng Ninh). Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Từ "di sản dạng chuỗi"...
Tháng 7/2025, Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc trở thành Di sản văn hóa thế giới dạng chuỗi đầu tiên của Việt Nam với 12 điểm di tích trải dài trên ba tỉnh, thành phố (Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng). Đáng nói, việc ghi danh này là kết quả của một quá trình chuẩn bị công phu kéo dài hơn một thập kỷ, đồng thời tạo nên một tiền lệ hiếm có: Ba địa phương cùng phối hợp, kết nối và chọn lọc các tài nguyên di sản của mình để làm nổi bật một chỉnh thể thống nhất về hệ thống di tích - cảnh quan, cũng như tư tưởng và triết lý nhân văn của dòng Phật giáo Trúc Lâm.

Vẻ đẹp hoàng hôn chùa Đồng trên non thiêng Yên Tử. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Để rồi, khi được UNESCO công nhận, các giá trị của mỗi điểm di tích thuộc quần thể không tồn tại đơn lẻ, mà được lan tỏa và bổ trợ cùng nhau trong một không gian văn hóa - lịch sử rộng lớn. Từ đó, cơ hội đang mở ra cho việc ba địa phương xây dựng các tuyến du lịch di sản đa điểm, kết nối hành trình tâm linh, lịch sử, văn hóa và cảnh quan theo từng chuyên đề.
Thực tế, với việc sở hữu 5/12 điểm di tích của quần thể, vào tháng 10/2025, Hải Phòng đã thí điểm tour du lịch "Một hành trình, năm điểm đến di sản" kết nối chuỗi điểm đến gồm các chùa Côn Sơn, Thanh Mai, Nhẫm Dưỡng, đền Kiếp Bạc, và động Kính Chủ. Trong hai ngày, bên cạnh hoạt động dâng hương, chiêm bái, du khách còn được tham gia các trải nghiệm văn hóa như làm gốm, in mộc bản, viết thư pháp, thưởng trà…

Chùa Côn Sơn (Hải Phòng) với nền móng cũ của tòa Cửu Phẩm Liên Hoa. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Theo chia sẻ, thử nghiệm này bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực và có thể tiến tới tổ chức thường xuyên hơn, thậm chí hướng tới nhóm khách quốc tế từ các thị trường quan tâm tới Phật giáo và văn hóa Á Đông như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ. Rộng hơn, nhìn từ chiều sâu lịch sử, GS sử học Nguyễn Quang Ngọc (Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Hà Nội) cho rằng cả ba địa phương đều tập trung dày đặc các di tích gắn với vương triều Trần, tạo thành một không gian "địa linh nhân kiệt" trong tiến trình lịch sử dân tộc. Từ đó, quần thể Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc hoàn toàn có thể mở rộng các tuyến trải nghiệm gắn với văn hóa vương triều Trần và những chiến công lịch sử tiêu biểu để làm giàu thêm nội dung cho du lịch di sản.

Đền Kiếp Bạc (Hải Phòng) có tổng diện tích khoảng 13.500m², với kiến trúc cổ kính. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Nhìn chung, trong tương lai, khi các tuyến du lịch được kết nối giữa cả ba địa phương, lợi thế của di sản dạng chuỗi này sẽ được phát huy rõ nét: Kéo dài thời gian lưu trú, phân bổ dòng khách, giảm áp lực lên từng điểm di tích riêng lẻ và mở ra lợi ích kinh tế hài hòa giữa các vùng. Đây cũng là hướng đi phù hợp với tinh thần của Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa ở lĩnh vực du lịch văn hóa, khi đặt trọng tâm vào việc "tạo ra các sản phẩm mang tính đặc trưng, riêng biệt, cá biệt hóa, bản sắc vùng, miền, tăng giá trị trải nghiệm của du khách".
... Tới mô hình du lịch cộng đồng
Được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại vào cuối 2025, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ lại đặt ra bài toán khác, trong quy mô một làng nghề cụ thể: Làm thế nào để di sản này có thể tiếp tục tồn tại và phát triển trong đời sống đương đại, đồng thời dần thoát khỏi tình trạng "cần bảo vệ khẩn cấp"?

Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh) nơi phát tích Tam Tổ phái Thiền Trúc Lâm của Phật giáo Việt Nam. Ảnh: Minh Đức - TTXVN
Như phân tích, so với các di sản phi vật thể mang tính trình diễn hay nghi lễ, tranh dân gian Đông Hồ sở hữu những lợi thế đặc thù để bước vào lĩnh vực du lịch văn hóa. Bởi, di sản gắn với một làng nghề cụ thể, nơi không gian cư trú, và sáng tạo vẫn hiện hữu, cho phép du khách tiếp cận di sản ngay trong môi trường sống của cộng đồng thực hành. Ngoài ra, tranh Đông Hồ là thuộc lĩnh vực mỹ thuật thủ công - vốn gần gũi với đời sống, dễ trải nghiệm và gắn với một thương hiệu văn hóa đã định hình, giúp di sản có mức độ nhận diện cao.
Thực tế, quá trình lập hồ sơ cho thấy: Dù đã trải qua nhiều thăng trầm, tại làng Đông Hồ (phường Thuận Thành, Bắc Ninh) vẫn còn một số nghệ nhân như Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Quả, Nguyễn Thị Oanh… đang giữ vai trò chủ thể trung tâm của nghề làm tranh. Bên cạnh việc duy trì thực hành nghề, gia đình các nghệ nhân cũng từng bước chủ động tổ chức những không gian trưng bày, giới thiệu và trình diễn tranh dân gian, tạo điều kiện để du khách tiếp cận di sản trong bối cảnh sinh hoạt thực tế của cộng đồng.
Không gian tranh dân gian Đông Hồ được trình chiếu tại kỳ họp của Unesco tại New Delhi vào tháng 12/2025, trước thời điểm được vinh danh. Ảnh: Ngọc Thúy - TTXVN
Theo phân tích của các chuyên gia, đây là "hạt nhân" quan trọng để phát triển các mô hình du lịch văn hóa có chiều sâu tại Đông Hồ, nơi du lịch trở thành một hình thức tiếp cận tri thức dân gian thông qua trải nghiệm và tìm hiểu trực tiếp về kỹ thuật, vật liệu, tư duy tạo hình và thế giới quan được gửi gắm trong từng bức tranh. Về lâu dài, Bắc Ninh có thể phối hợp với các địa phương lân cận để hình thành các tour liên kết, chẳng hạn như tour Bát Tràng - chùa Dâu - Đông Hồ - Đồng Kỵ gắn với các làng nghề.
Song song với du lịch cộng đồng, những năm gần đây, hướng sáng tạo sản phẩm từ tranh Đông Hồ trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng cũng dần được mở ra, với các sản phẩm như tranh khung trúc, tranh để bàn, tranh mành… Những hình thức này không nhằm thay thế tranh truyền thống, mà góp phần kéo dài vòng đời của di sản, đưa các giá trị thẩm mỹ dân gian bước vào đời sống đương đại, tiếp cận rộng hơn với công chúng, đặc biệt là người trẻ và du khách quốc tế.
Như thế, làng tranh Đông Hồ đang gợi mở một mô hình du lịch văn hóa mang tính đặc thù, nơi du lịch cộng đồng, trải nghiệm văn hóa và sản phẩm sáng tạo có thể bổ trợ lẫn nhau trên nền tảng của một Di sản văn hóa thế giới. Khi di sản được sống cùng cộng đồng và được tiếp cận bằng những hình thức phù hợp với nhịp sống hôm nay, sức sống bền bỉ của tranh Đông Hồ sẽ có thể được khẳng định trong tương lai, phù hợp với định hướng của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa mà Chính phủ phê duyệt.
Thể thao và Văn hóa - Xuân Bính Ngọ 2026


