Vì một miền quê đáng sống: Từ hạt gạo quê nhà đến tấm bánh đa nem vươn xa
Có những miền quê được nhận diện bằng một dòng sông, một mái đình, một mùa lúa chín. Cũng có những miền quê đi vào ký ức bằng một thức quà bình dị, nhỏ bé nhưng mang theo cả hương vị đất đai và bàn tay người làm ra nó. Đó là làng Chều, xã Nam Xang, tỉnh Ninh Bình.
Ở nơi ấy, từ những hạt gạo trắng ngần của đồng quê, người dân đã làm nên những tấm bánh đa nem mỏng, mềm, dẻo, thơm mùi gạo - thứ sản vật tưởng như khiêm nhường mà bền bỉ theo chân người dân đi khắp mọi miền đất nước, rồi vượt qua biên giới để tìm đến những thị trường xa xôi.
Bánh đa nem làng Chều vươn xa
Nghề làm bánh đa nem ở làng Chều đã có từ lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một phần ký ức của làng. Qua bao đổi thay, nghề vẫn ở lại trong mỗi nếp nhà, trên những sân phơi, trong tiếng máy vận hành và cả trong câu chuyện của những người đã dành phần lớn cuộc đời mình để gắn bó với hạt gạo quê hương.
Xã Nam Xang hiện có trên 900 hộ sản xuất, chế biến bánh đa nem, với gần 200 máy tráng bánh và khoảng 20 hộ đầu tư máy sấy, chủ yếu ở làng Chều; nghề tạo việc làm cho hơn 1.200 lao động địa phương. Doanh thu hằng năm từ sản xuất bánh đa nem ước đạt gần 400 tỷ đồng. Khoảng 30% sản lượng được xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp và một số nước Đông Âu. Những con số ấy cho thấy một điều đáng mừng: Nghề truyền thống không chỉ tồn tại như một dấu tích của quá khứ, mà đang trở thành một sinh kế có sức sống trong đời sống kinh tế hôm nay.

Hệ thống sấy khô công nghiệp bánh đa nem giúp cơ sở của anh Trần Ngọc Nghĩa ở thôn Trần Xá, xã Nam Xang chủ động trong khâu sản xuất, không bị gián đoạn bởi yếu tố thời tiết. Ảnh: Nguyễn Chinh
Có lẽ điều đáng quý nhất của bánh đa nem làng Chều không chỉ nằm ở độ trắng, độ mềm hay độ dẻo của chiếc bánh. Đằng sau mỗi tấm bánh mỏng là câu chuyện về văn hóa lúa nước, về sự cần cù và khả năng chắt chiu của người nông dân. Hạt gạo - sản vật thân thuộc nhất của làng quê Việt Nam - qua bàn tay người làng Chều đã được nâng lên thành một sản phẩm có giá trị, có thương hiệu và có thị trường.
Nghề truyền thống vì thế không đơn thuần là chuyện "cha truyền con nối". Đó còn là cách một cộng đồng giữ lại căn cước của mình giữa những biến động của thời gian. Bởi một làng nghề chỉ thực sự sống khi người trẻ vẫn nhìn thấy tương lai ở chính quê hương mình.
Câu chuyện của anh Trần Ngọc Nghĩa là một minh chứng. Sinh ra ở làng nghề có tuổi đời hàng trăm năm, sau nhiều năm đi xuất khẩu lao động, năm 2021 anh trở về quê, mang theo khát vọng làm mới nghề của ông cha. Với số vốn tích lũy và tiền vay từ người thân, bạn bè, anh đầu tư gần 3 tỷ đồng xây dựng nhà xưởng, mua máy trộn bột tự động, máy cán bột, máy sấy khô… Công nghệ giúp năng suất tăng 2 - 3 lần, sản phẩm đồng đều hơn, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và không còn quá phụ thuộc vào thời tiết.
Từ một nghề vốn dựa nhiều vào kinh nghiệm thủ công và nắng trời, người làng Chều đang từng bước tạo nên một quy trình sản xuất hiện đại. Bột được trộn với tỷ lệ chính xác, bánh được cán đều, công đoạn sấy được thực hiện chủ động thay cho những ngày ngóng nắng. Máy móc có thể làm thay con người nhiều phần việc, nhưng điều quan trọng là máy móc không thể thay thế bí quyết, ký ức và tình yêu nghề được tích lũy qua nhiều thế hệ.
Ở đó, công nghệ không đối lập với truyền thống. Trái lại, công nghệ đang giúp truyền thống có thêm một đôi cánh.

Phơi bánh đa nem thủ công phụ thuộc rất lớn vào thời tiết. Ảnh: Nguyễn Chinh
Cơ sở của anh Nghĩa hiện tạo việc làm thường xuyên cho 20 lao động trung niên địa phương, với mức thu nhập 6 - 7 triệu đồng/người/tháng; mỗi năm sau khi trừ chi phí, cơ sở thu về khoảng 400 - 500 triệu đồng. Những con số ấy, suy cho cùng, cũng chính là câu trả lời giản dị cho câu hỏi làm thế nào để một làng nghề có thể giữ chân người dân ở lại quê hương: nghề phải sống được, người làm nghề phải có thu nhập, và sản phẩm quê phải tìm được chỗ đứng trên thị trường.
Đặc biệt, vào những ngày giáp Tết, khi nhu cầu bánh đa nem tăng gấp 3 - 4 lần, làng Chều lại trở nên tất bật. Có lẽ trong sự nhộn nhịp ấy vẫn thấp thoáng bóng dáng của những mùa Tết xưa: căn bếp đỏ lửa, mâm cơm sum họp và những món ăn được cuốn trong lớp bánh mỏng mang vị gạo quê. Bánh đa nem vì thế không chỉ là hàng hóa. Nó còn là một phần của văn hóa ẩm thực Việt Nam, gắn với những bữa cơm gia đình, những dịp đoàn viên và ký ức về quê nhà.
Khi chiếc bánh mỏng mang theo khát vọng đi xa
Từ làng Chều, những tấm bánh đa nem đã đi qua nhiều vùng miền, rồi sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và những thị trường xa hơn. Đặc biệt, việc sản phẩm tiếp cận được thị trường Pháp - nơi đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng và an toàn - mang một ý nghĩa vượt lên trên giá trị của một đơn hàng.
Bởi để một sản phẩm làng nghề bước ra thế giới, người làm nghề phải thay đổi cách nghĩ. Không thể chỉ làm ngon theo kinh nghiệm, mà phải làm chuẩn bằng quy trình. Không thể chỉ trông vào uy tín truyền miệng, mà phải quan tâm đến thương hiệu, mẫu mã, bao bì, an toàn thực phẩm và khả năng đáp ứng những đơn hàng lớn.
Người dân Nam Xang đã bắt đầu từ những thay đổi như thế. Nhiều hộ đầu tư nhà xưởng, máy móc, xây dựng quy trình khép kín; từ máy trộn bột tự động, máy cán bột đến đóng gói tự động, từ phơi bánh phụ thuộc vào nắng trời chuyển sang hệ thống sấy liên hoàn. Sau nhiều lần gửi mẫu, trao đổi với đối tác, có cơ sở đã đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Pháp, với doanh số khoảng 500 triệu đồng/năm.

Sản phẩm bánh đa nem làng Chều được Kiểm tra kỹ trước khi đóng gói. Ảnh: Nguyễn Chinh
Con số ấy có thể chưa lớn nếu đặt cạnh những ngành hàng xuất khẩu quy mô lớn. Nhưng với một làng nghề nông thôn, đó là một dấu mốc đáng tự hào. Nó chứng minh rằng những sản vật bình dị nhất của quê hương, nếu được làm bằng tâm huyết, tri thức và một tư duy mới, đồng thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ phù hợp thì hoàn toàn có thể bước vào những thị trường khó tính. Điều đó thật đáng khích lệ, như chính "Nghị quyết 57 về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" cũng đã khẳng định, cần "trân trọng từng phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, sáng kiến nâng cao hiệu quả công tác, hiệu suất công việc, dù là nhỏ nhất".
Và khi chiếc bánh đa nem làng Chều xuất hiện trong những gian bếp ở một đất nước xa xôi, có một phần văn hóa Việt Nam cũng theo đó mà đi. Đó là văn hóa của hạt gạo, của bữa cơm gia đình, của sự khéo léo và cần cù; là câu chuyện về một làng quê biết gìn giữ quá khứ nhưng không chịu đứng yên trong quá khứ.
Khát vọng của người dân Nam Xang hôm nay vì thế không chỉ là bán được nhiều bánh hơn. Đó còn là làm sao để nghề truyền thống trở thành nền tảng của một miền quê đáng sống; để người dân có thể làm giàu từ chính quê hương; để những người trẻ có lý do trở về và tiếp nối công việc của cha ông; để làng nghề không chỉ sản xuất ra hàng hóa mà còn lưu giữ được hồn quê.
Mai này, nếu làng Chều trở thành một điểm du lịch làng nghề hấp dẫn của Ninh Bình, du khách sẽ không chỉ đến để nhìn những tấm bánh mỏng phơi trên giàn hay nghe tiếng máy trong xưởng sản xuất. Điều họ tìm kiếm có lẽ còn là câu chuyện phía sau chiếc bánh: câu chuyện về một cộng đồng đã biết biến hạt gạo thành sinh kế, biến nghề xưa thành cơ hội mới và biến một sản vật bình dị thành một đại sứ nhỏ bé của đặc sản quê hương.
Một chiếc bánh đa nem có thể rất mỏng. Nhưng hành trình của nó từ làng Chều ra thế giới lại không hề nhỏ. Trong lớp bánh trắng mềm, dẻo thơm ấy có bóng dáng cánh đồng, có bàn tay người thợ, có ký ức làng quê và có cả khát vọng vươn lên của một miền quê đang từng ngày đổi mới.
Để rồi, đi xa đến đâu, chiếc bánh vẫn mang theo vị của hạt gạo quê nhà - và câu chuyện về một làng Chều biết giữ lấy văn hoá làng nghề của mình trong hành trình bước ra thế giới.
Những sản vật bình dị nhất của quê hương, nếu được làm bằng tâm huyết, tri thức và một tư duy mới, đồng thời không ngừng cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ phù hợp thì hoàn toàn có thể bước vào những thị trường khó tính.