Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới xác định chuyển mạnh mô hình phát triển từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo; phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tăng liên kết chuỗi giá trị và để người dân trở thành chủ thể tham gia, thụ hưởng.
Với vùng cao, những định hướng lớn ấy có thể được nhìn thấy từ các mô hình đang thử nghiệm cách biến tri thức bản địa, hoạt động sản xuất và đời sống cộng đồng thành sản phẩm, việc làm và nguồn thu.
Biến tri thức bản địa thành một sinh kế
Trên những cung đường quanh co của cao nguyên đá, Easy Rider là một ví dụ về cách một nguồn lực vốn khó đo đếm có thể trở thành sản phẩm du lịch.
Theo bà Hoàng Hảo, chuyên gia Hội đồng Xây dựng và Bảo tồn Văn hóa bản địa - Viện Phát triển Du lịch châu Á, doanh nghiệp mà bà chung tay xây dựng, ban đầu tập hợp khoảng 10-20 thanh niên dân tộc thiểu số có ít cơ hội việc làm, đào tạo họ trở thành những người lái xe, đồng hành cùng du khách. Từ nhóm nhỏ ban đầu, đội ngũ dần được mở rộng theo nhu cầu của thị trường, phục vụ những hành trình ba ngày hai đêm hoặc bốn ngày ba đêm trên cao nguyên đá.
Bà Hoàng Hảo nhìn nhận: “Mô hình này hướng đến việc giúp du khách có được trải nghiệm tốt nhưng vẫn bảo đảm an toàn trên những cung đường của cao nguyên đá và Con đường Hạnh phúc. Theo tôi, đó là một hình thức du lịch có trách nhiệm”.
Mô hình vì thế gợi ra một cách nhìn rộng hơn về tài nguyên du lịch: bên cạnh danh thắng và hạ tầng, tri thức địa phương, kỹ năng, phương thức sản xuất và những hiểu biết được tích lũy qua đời sống cũng có thể trở thành tài sản kinh tế nếu được tổ chức thành sản phẩm phù hợp.
Easy Rider tạo ra mắt xích đầu tiên trong chuỗi giá trị: việc làm cho người dân tại chỗ. Với những địa bàn mà cơ hội nghề nghiệp còn hạn chế, điều này giúp giữ lại một phần giá trị của thị trường ngay trong cộng đồng.
Từ một việc làm đến những “vòng tròn hạnh phúc”
Nếu Easy Rider bắt đầu từ giao dịch giữa du khách với người lao động địa phương, Happy Loop đi thêm một bước khi đặt câu hỏi giá trị của giao dịch ấy có thể lan tới đâu. Bà Hoàng Hảo cho biết: “Giá trị cốt lõi của Happy Loop được hình thành từ những vòng tròn hạnh phúc có sự gắn kết với nhau”.
Vòng đầu tiên là việc làm của một thanh niên. Có thu nhập, người trẻ có thêm điều kiện chăm lo gia đình và thêm cơ hội làm việc tại quê hương. Một vòng khác thuộc về du khách khi được người bản địa thông thạo địa hình đồng hành, qua đó có thể tập trung vào trải nghiệm thay vì tự mình xử lý những cung đường khó. Phạm vi giá trị tiếp tục mở rộng khi khách sử dụng các dịch vụ khác tại điểm đến.
Bà Hoàng Hảo giải thích: “Vòng tròn thứ tư là hạnh phúc của cộng đồng. Khi khách du lịch đến với cao nguyên đá Hà Giang, sử dụng các dịch vụ tại chỗ và tham gia những hoạt động do người dân tổ chức, họ góp phần tạo sinh kế, thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng địa phương”.
Khi các mắt xích ấy được nối lại, một lượt khách có thể tạo ra nhiều giao dịch và nhiều sinh kế cùng lúc. Đây là bước chuyển từ việc đón khách sang tổ chức dòng giá trị của du lịch. Happy Loop vì thế hướng dòng chi tiêu của khách từ một dịch vụ đơn lẻ sang nhiều hoạt động kinh tế tại chỗ.
Đưa sản xuất thường ngày vào trải nghiệm
Một mắt xích khác được mở ra từ Green Blessings - “Màu xanh an lành”. Thay vì xây dựng trải nghiệm tách khỏi đời sống, mô hình đưa khách đến gần những hoạt động vốn diễn ra hàng ngày trong cộng đồng như hái chè, gặt lúa, đập lúa, trekking hoặc tham gia một số công việc sản xuất của người dân.
Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm vùng cao, nơi cảnh quan, nông nghiệp và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ. Nương ruộng vừa là không gian sản xuất vừa tạo nên diện mạo của điểm đến; cây trồng đi vào ẩm thực; mùa vụ liên quan tới tập quán; nghề truyền thống gắn với nguồn nguyên liệu và tri thức của cộng đồng. Khi hoạt động sản xuất trở thành một phần của trải nghiệm, du lịch có thể tạo thêm giá trị trên chính nền kinh tế đã tồn tại thay vì phải dựng lên một không gian riêng cho khách.
Một vùng chè vẫn sản xuất chè, nhưng việc thu hái, chế biến và câu chuyện của người trồng có thể mở thêm lớp trải nghiệm. Giá trị mới được bổ sung trên chính nguồn lực vốn có.
Bà Nguyễn Thị Hồng Liễu, Giám đốc Hợp tác xã Dược liệu Xuân Ý, cán bộ Phân hiệu Trường Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang cho rằng, nội hàm của du lịch xanh cũng cần được nhìn theo chiều rộng như vậy. Bà chia sẻ: “Với Cộng đồng Du lịch Net Zero, chúng tôi hướng đến du lịch xanh, du lịch bền vững, du lịch cộng đồng và các hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống bản địa”.
Theo cách tiếp cận này, “xanh” còn nằm trong cách tổ chức sản phẩm để môi trường, sinh kế và đời sống cộng đồng cùng được tính tới. Cảnh quan có thể đưa khách tới lần đầu, nhưng muốn họ ở lâu hơn hoặc quay trở lại, điểm đến cần trải nghiệm sâu hơn về văn hóa, ẩm thực, sản phẩm bản địa và cuộc sống của người dân.
“Bảo tàng sống” và cách để di sản tạo thêm sinh kế
Nếu Easy Rider khai thác tri thức con người và Green Blessings kết nối du lịch với sản xuất, mô hình “bảo tàng sống” mà bà Hoàng Hảo tham gia lại đi vào mối quan hệ giữa bảo tồn và sinh kế. Khác với không gian trưng bày nơi hiện vật được tách khỏi đời sống, “bảo tàng sống” đặt con người ở giữa di sản. Những giá trị cần gìn giữ có thể là nhà trình tường, hàng rào đá, phương thức canh tác trên đá, đàn ong bản địa, nghề dệt lanh và các tập quán gắn với cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Quan niệm cốt lõi được bà Hoàng Hảo rất ngắn gọn: “Chủ thể của di sản trên cao nguyên đá chính là người dân”. Điều đó có nghĩa một ngôi nhà truyền thống có ý nghĩa khác khi trong đó vẫn có gia đình sinh hoạt; một nghề thủ công được gìn giữ vững hơn khi vẫn có người làm và có thị trường; một phương thức canh tác tiếp tục tồn tại khi còn gắn với đời sống và sinh kế.
Theo bà Hoàng Hảo, dự án “Bảo tàng sống” của người Mông vận động các gia đình gìn giữ nhà trình tường; trước đây, chính quyền địa phương và ông Yasushi Ogura từng hỗ trợ một phần kinh phí để khuyến khích những hộ có nhu cầu làm nhà tiếp tục sử dụng kỹ thuật trình tường thay vì chuyển hoàn toàn sang kiểu xây dựng hiện đại.
Mục tiêu tiếp theo là đưa khách tới trải nghiệm, qua đó tạo thêm việc làm và cải thiện sinh kế. Tuy nhiên, cách làm được hướng tới là lựa chọn nhóm khách thực sự quan tâm đến văn hóa và muốn tìm hiểu đời sống của đồng bào trên cao nguyên đá, thay vì chạy theo số lượng. Ở đây, giá trị kinh tế được đặt trong khuôn khổ của một sản phẩm có chủ đích: khách tới vì văn hóa, người dân có thêm nguồn thu từ việc duy trì văn hóa, và chính không gian cư trú vẫn là nền tảng của trải nghiệm.
Bốn trụ cột cho một làng du lịch người Pu Péo
Nếu “bảo tàng sống” xuất phát từ việc giữ di sản trong đời sống, mô hình làng văn hóa du lịch cộng đồng người Pu Péo mà bà Lưu Thị Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Po Mỷ, Đồng Văn, Tuyên Quang, đang phát triển lại đi từ cấu trúc nguồn lực của một cộng đồng. Mô hình được định hình trên bốn trụ cột: văn hóa, nông nghiệp, con người và cảnh sắc. Bà Hòa xác định đây là những thành tố cần được duy trì xuyên suốt trong quá trình xây dựng sản phẩm.
Cách đặt nông nghiệp ngang hàng với văn hóa, con người và cảnh quan cho thấy một tư duy đáng chú ý. Trong điều kiện miền núi, nhiều cảnh quan được tạo nên từ lao động sản xuất. Nương ruộng, cây trồng, mùa vụ vừa tạo sinh kế vừa góp phần hình thành bản sắc của vùng đất. Nông sản đi vào ẩm thực, nghề truyền thống gắn với nguyên liệu, trong khi phong tục và lễ nghi nhiều khi có quan hệ trực tiếp với chu kỳ sản xuất. Nếu các yếu tố ấy được tổ chức thành chuỗi sản phẩm, một làng du lịch có thể có nhiều nguồn thu hơn việc chỉ cung cấp chỗ ngủ cho khách.
Mô hình người Pu Péo hiện vẫn trong quá trình phát triển, vì vậy hiệu quả kinh tế cần thêm thời gian để kiểm chứng. Nhưng cách xây dựng sản phẩm từ bốn nguồn lực sẵn có cho thấy một nguyên tắc quan trọng: cộng đồng cần tìm được mô hình phù hợp với chính mình, thay vì sao chép hình thức của một điểm đến đã thành công ở nơi khác.
Bà Hoàng Hảo cũng nhấn mạnh: “Không thể sao chép nguyên trạng một mô hình từ nơi khác, mà cần lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa và đời sống của người dân sở tại”. Điều có thể học là cách nhận diện nguồn lực, tổ chức sản phẩm, phân chia lợi ích và xác lập vai trò của cộng đồng; hình thức cụ thể phải được thiết kế lại cho từng nơi.
Điều cần nhân rộng là cách tạo ra giá trị
Easy Rider, Happy Loop, Green Blessings, “bảo tàng sống” hay mô hình làng văn hóa người Pu Péo có hình thức khác nhau, nhưng đều bắt đầu bằng việc nhìn lại những gì cộng đồng đã có. Không mô hình nào tự nó là lời giải hoàn chỉnh cho kinh tế du lịch vùng cao. Quy mô còn khác nhau, nhiều cách làm vẫn cần tiếp tục được kiểm chứng.
Tuy vậy, chúng cùng gợi ra một nguyên tắc phù hợp với yêu cầu phát triển theo hệ sinh thái và chuỗi giá trị mà Nghị quyết 26 đặt ra: điều cần nhân rộng là năng lực nhận diện và tổ chức nguồn lực địa phương thành giá trị kinh tế, chứ không phải sao chép bề ngoài của một sản phẩm.
Ba người được Thể thao và Văn hóa phỏng vấn đi đến vấn đề từ những hướng khác nhau nhưng cùng gặp ở một câu hỏi: sau khi du khách rời đi, điều gì còn ở lại với người dân? Nếu một chuyến đi tạo thêm việc làm cho người trẻ, mở đầu ra cho nông sản, tạo thị trường cho nghề thủ công, giúp một giá trị văn hóa có thêm nguồn lực để được gìn giữ và để lại nhiều hơn thu nhập trong cộng đồng, du lịch đã đi xa hơn việc khai thác cảnh quan.
Khi người dân có thể sống bằng sự am hiểu quê hương, hoạt động sản xuất tạo thêm giá trị nhờ trải nghiệm, di sản tiếp tục được duy trì trong đời sống và dòng chi tiêu của khách lan qua nhiều sinh kế, những mô hình nhỏ bắt đầu trở thành mắt xích của kinh tế du lịch.
Nhưng khi thị trường tiếp tục mở rộng, một câu hỏi khác sẽ xuất hiện: phát triển tới đâu để chính những giá trị tạo nên sức hút không bị suy giảm?
Câu hỏi này sẽ được trả lời trong kỳ tiếp theo. Mời quý độc giả tiếp tục theo dõi!
(Còn nữa)
