Ở bài trước, Thể thao và Văn hóa đã phác họa bức tranh du lịch Việt Nam đang mở rộng cả về quy mô, thị trường và nhu cầu trải nghiệm. Bên cạnh sức hút của biển, đô thị và những miền di sản, một dòng dịch chuyển khác ngày càng rõ: du khách tìm về thiên nhiên, những không gian yên tĩnh, văn hóa bản địa và trải nghiệm cộng đồng.
Vùng cao vì thế trở thành một lát cắt đáng để nhìn sâu, bởi tại đây cảnh quan, văn hóa, nông nghiệp và đời sống cộng đồng cùng hiện diện trong một không gian, cũng là nơi thấy rõ khoảng cách giữa tài nguyên sẵn có và khả năng tạo ra sản phẩm có chiều sâu.
Khi du khách tìm đến những điều khác biệt
Với nhiều du khách, miền núi phía Bắc của Việt Nam trước hết hấp dẫn bởi cảnh quan khó trộn lẫn. Sa Pa, Mù Cang Chải, Mộc Châu có núi, thung lũng và những thửa ruộng bậc thang nối nhau trên sườn dốc. Cao nguyên đá của tỉnh Tuyên Quang lại mở ra những cung đường xuyên qua núi đá, các bản làng nằm giữa không gian rộng lớn và những cộng đồng vẫn duy trì nhiều nét văn hóa riêng.
Nhưng sức hấp dẫn của vùng cao đang vượt ra ngoài cảnh quan. Marco Sanchini, du khách đến từ Italy cho biết, Sa Pa gây ấn tượng với anh bởi núi non, ruộng bậc thang và bầu không khí rất khác những nơi từng đi qua. Trên hành trình ở cao nguyên đá, điều khiến anh muốn ở lại lâu hơn lại nằm ở những bữa ăn, chợ phiên, kiến trúc và đời sống của các cộng đồng dân tộc. Ở một góc nhìn khác, Lilian de Rojas, du khách đến từ Tây Ban Nha, đặc biệt chú ý tới cách văn hóa hiện diện trong bản làng, trang phục, chợ, món ăn và hoạt động thường ngày của người dân.
Những cảm nhận ấy phần nào lý giải vì sao xu hướng tìm về thiên nhiên, vùng sâu, vùng xa và những không gian có nhịp sống chậm hơn đang được quan tâm.
Theo bà Lưu Thị Hòa, Giám đốc Hợp tác xã Po Mỷ, Đồng Văn, Tuyên Quang, nhu cầu của du khách vốn rất đa dạng. Có người thích hành trình ngắn với nhịp độ nhanh; có người muốn chậm lại, dành nhiều thời gian hơn cho thiên nhiên và đời sống bản địa. Sự phong phú của tài nguyên từ miền biển tới miền núi giúp Việt Nam có khả năng đáp ứng nhiều dạng nhu cầu, nhưng mỗi điểm đến phải xác định rõ mình phù hợp với nhóm khách nào và muốn đem tới trải nghiệm gì.
Điều đó tạo ra lợi thế khó sao chép. Một điểm đến biển có thể đầu tư thêm cơ sở lưu trú và tiện ích; một đô thị có thể tổ chức thêm sự kiện. Với vùng cao, phần giá trị đặc biệt lại nằm nhiều trong mối quan hệ giữa con người với môi trường sống. Khi du khách tìm kiếm sự khác biệt, họ ngày càng quan tâm tới câu chuyện phía sau phong cảnh ấy thay vì chỉ nhìn một phong cảnh đẹp từ xa: người dân sống thế nào, sản xuất ra sao, món ăn được làm từ đâu và những tập quán nào còn được duy trì trong cộng đồng.
Từ “đi qua” đến ở lại lâu hơn
Đây cũng là nơi câu chuyện phát triển chiều sâu bắt đầu. Du lịch vùng cao những năm gần đây thay đổi đáng kể khi giao thông thuận lợi hơn, hệ thống lưu trú và ăn uống mở rộng, nhiều dịch vụ vận chuyển và trải nghiệm được hình thành. Hình ảnh những cung đường, ruộng bậc thang, chợ phiên hay bản làng lan nhanh qua mạng xã hội, các nền tảng đặt phòng và video du lịch, giúp những địa danh từng được xem là xa xôi đến gần hơn với thị trường.
Khả năng tiếp cận tốt hơn tạo thêm cơ hội, nhưng số người đến chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả của du lịch. Một điểm dừng có thể rất đông khách nhưng thời gian ở lại ngắn; một cảnh quan có thể nổi tiếng trên mạng xã hội nhưng hoạt động chi tiêu tại chỗ còn ít. Vì vậy, bước chuyển quan trọng là từ việc thu hút người đến sang "tạo đủ lý do" để họ ở lại, sử dụng nhiều dịch vụ hơn và hiểu sâu hơn về điểm đến.
Bà Nguyễn Thị Hồng Liễu, Giám đốc Hợp tác xã Dược liệu Xuân Ý (Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Hà Giang) cho rằng, chuyến đi đầu tiên có thể được thúc đẩy bởi cảnh quan thiên nhiên và sự khác biệt. "Ở những lần tiếp theo, du khách thường tìm kiếm các hoạt động sâu hơn gắn với du lịch xanh, bản sắc văn hóa, ẩm thực và sản phẩm đặc trưng của từng địa phương. Điều đó cho thấy cảnh quan có thể mở cánh cửa ban đầu, nhưng chất lượng sản phẩm và chiều sâu trải nghiệm mới quyết định khả năng kéo dài mối quan hệ giữa khách với điểm đến", bà Liễu chia sẻ.
Cách nhìn này khá tương đồng với quan điểm của bà Lưu Thị Hòa khi bà đặt trọng tâm vào chất lượng thay vì chạy theo số lượng khách. Theo bà, nâng chất lượng trước hết phải giúp khách có thể lưu trú lâu hơn, tiếp đó là tạo cơ hội để họ trải nghiệm sâu hơn và hình thành sự trân trọng đối với văn hóa, con người, giá trị bản địa. Khi một hành trình để lại ấn tượng đủ sâu, du khách có thể trở thành người tiếp tục lan tỏa câu chuyện về điểm đến.
Vì vậy, “ở lâu hơn” không nên được hiểu đơn giản là tăng số đêm lưu trú bằng mọi giá. Nếu thời gian kéo dài nhưng trải nghiệm lặp lại, giá trị gia tăng cũng có giới hạn. Điều cần thiết là tổ chức một chuỗi hoạt động đủ phong phú để mỗi khoảng thời gian khách ở lại mở thêm một lớp khám phá: một bữa ăn gắn với nguyên liệu địa phương, một buổi tìm hiểu nghề thủ công, một hoạt động nông nghiệp, một cung trekking, một câu chuyện về kiến trúc hoặc một phiên chợ gắn với đời sống cộng đồng.
Khoảng cách từ tài nguyên tới sản phẩm
Đây là điểm nhiều địa phương vùng cao vẫn phải tiếp tục hoàn thiện. Có cảnh quan đẹp nhưng thiếu dịch vụ phù hợp; có nông sản nhưng chưa thành sản phẩm du lịch; có nghề truyền thống nhưng cách giới thiệu còn đơn giản; có câu chuyện văn hóa nhưng thiếu người đủ kỹ năng để kể bằng ngôn ngữ mà du khách dễ tiếp nhận.
Theo bà Hòa, một vấn đề quan trọng nằm ở nội lực của địa phương. Khi khách đến, người dân đã có đủ kiến thức, kinh nghiệm và được đào tạo để phục vụ, tổ chức trải nghiệm, giao tiếp và xử lý những tình huống phát sinh hay chưa? Cảnh vật có thể thu hút sự chú ý ban đầu, nhưng sự thân thiện, chiều sâu văn hóa và khả năng hòa mình vào đời sống sở tại mới là những yếu tố có thể giữ khách lâu hơn.
Khoảng cách từ tài nguyên tới sản phẩm vì thế không dừng ở đầu tư cơ sở vật chất. Nó còn là vấn đề thiết kế trải nghiệm. Một ruộng lúa là tài nguyên cảnh quan; để trở thành sản phẩm, cần xác định khách có thể tham gia điều gì, thời điểm nào phù hợp, ai hướng dẫn và lợi ích được chia sẻ ra sao. Một nghề thủ công có thể rất độc đáo; để trở thành trải nghiệm, người làm nghề cần có không gian giới thiệu, cách kể câu chuyện, sản phẩm phù hợp với nhu cầu mua sắm và cơ chế để thu nhập quay trở lại người thực hành nghề.
Bài toán nhân lực vì vậy phải được đặt cùng bài toán sản phẩm. Người dân tham gia du lịch cần nhiều hơn sự hiếu khách. Họ cần kỹ năng làm dịch vụ, kiến thức về an toàn, vệ sinh, môi trường, khả năng giới thiệu văn hóa và một mức độ nhất định về công nghệ, ngoại ngữ tùy vị trí công việc. Với người trẻ, các kỹ năng về truyền thông số, hình ảnh, bán hàng trực tuyến và thiết kế trải nghiệm có thể giúp sản phẩm địa phương tiếp cận thị trường rộng hơn.
Từ những mắt xích rời rạc đến chuỗi trải nghiệm
Một hạn chế khác là nhiều giá trị tại điểm đến vẫn tồn tại rời rạc. Homestay hoạt động riêng, nông sản bán riêng, nghề thủ công nằm ở một không gian khác, hoạt động văn hóa xuất hiện theo dịp. Khi các yếu tố chưa kết nối, du khách khó hình thành một hành trình liền mạch và tiền chi tiêu cũng ít có cơ hội đi qua nhiều mắt xích trong cộng đồng.
Trong khi đó, lợi thế của vùng cao nằm chính ở khả năng nối nhiều lĩnh vực vào cùng một trải nghiệm. Nông nghiệp tạo ra cảnh quan và nguyên liệu cho ẩm thực; nghề thủ công tạo sản phẩm và câu chuyện; kiến trúc tạo không gian lưu trú; văn hóa cộng đồng tạo chiều sâu; giao thông và hướng dẫn giúp kết nối các điểm thành tuyến. Khi những thành tố này được tổ chức cùng nhau, một chuyến đi có thể đem lại giá trị cho nhiều chủ thể hơn thay vì tập trung vào một dịch vụ duy nhất.
Tinh thần này gặp với định hướng của Nghị quyết số 26-NQ/TW khi xác định chuyển mạnh từ phát triển dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên sang chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao; lấy văn hóa làm nền tảng, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam.
Với vùng cao, định hướng ấy có thể bắt đầu từ những việc rất cụ thể: nâng kỹ năng của người dân, tạo thêm lớp trải nghiệm cho sản phẩm đang có, kết nối những dịch vụ rời rạc và đưa nhiều phần giá trị hơn ở lại địa phương.
Người dân ở đâu trong quá trình phát triển?
Một yếu tố xuyên suốt trong các ý kiến của những người làm du lịch là vai trò của cộng đồng. Tài nguyên văn hóa vùng cao tồn tại trong đời sống của người dân, vì vậy họ không thể chỉ được xem như lao động phục vụ. Cộng đồng cần có tiếng nói trong cách điểm đến tiếp nhận khách, lựa chọn loại sản phẩm phù hợp và quyết định mức độ thay đổi mà họ có thể chấp nhận.
Bà Hòa cho rằng, sự đồng thuận của cư dân có ý nghĩa đặc biệt. "Khi người dân được tham gia từ quá trình hình thành ý tưởng, họ có điều kiện hiểu rõ lợi ích, trách nhiệm và những thay đổi đi kèm hoạt động du lịch", bà Hòa nói. "Ngược lại, nếu sản phẩm được thiết kế từ bên ngoài rồi đặt xuống cộng đồng, khả năng vận hành bền vững sẽ thấp hơn, bởi người dân dễ trở thành người thực hiện thụ động thay vì chủ thể có lợi ích và trách nhiệm rõ ràng".
Đây cũng là lý do phát triển chiều sâu phải đi cùng phát triển năng lực cộng đồng. Khi người dân có thể tự vận hành một phần dịch vụ, tham gia xây dựng sản phẩm, bán hàng, quảng bá và giữ được phần thu nhập hợp lý, du lịch mới có khả năng trở thành một nguồn sinh kế lâu dài. Khi lợi ích kinh tế gắn với văn hóa, nông nghiệp và nghề truyền thống, những giá trị ấy cũng có thêm cơ hội tiếp tục được duy trì.
Từ bài toán đến những mô hình cụ thể
Nhìn từ thị trường và thực tiễn vùng cao, câu hỏi đặt ra không còn là khu vực này có tài nguyên để làm du lịch hay không? Câu hỏi khó hơn là làm cách nào biến sự khác biệt thành sản phẩm, kéo dài hành trình thành giá trị kinh tế và để lợi ích lan tới cộng đồng?
Câu trả lời sẽ không nằm trong một công thức duy nhất. Có nơi nguồn lực mạnh nhất là tri thức đường sá của người trẻ; có nơi là nông nghiệp, nghề thủ công; có nơi là kiến trúc, văn hóa cộng đồng hoặc khả năng xây dựng một tuyến trải nghiệm xuyên qua nhiều bản làng. Mỗi địa phương phải nhận diện đúng những gì mình có và tìm cách tổ chức nguồn lực đó thành sản phẩm phù hợp.
Chính từ yêu cầu ấy, những mô hình mới như Easy Rider, Happy Loop, Green Blessings, “bảo tàng sống” hay dự án Làng văn hóa du lịch cộng đồng người Pu Péo trở nên đáng chú ý. Giá trị của chúng không nằm ở việc có thể sao chép nguyên trạng sang mọi nơi, mà ở cách chúng thử trả lời những vấn đề rất cụ thể của du lịch vùng cao: tạo việc làm từ tri thức bản địa, kết nối chi tiêu của khách với sinh kế, đưa hoạt động sản xuất vào trải nghiệm và tìm thêm động lực kinh tế cho việc gìn giữ văn hóa.
Đó cũng sẽ là nội dung của kỳ tiếp theo. Mời quý độc giả tiếp tục đón đọc!
(Còn tiếp)
