Sau những chuyển động tích cực của mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026, câu chuyện phát triển kinh tế di sản từ lễ hội đang được nhìn nhận trong một bối cảnh rộng hơn: làm thế nào để định vị rõ bản sắc của từng lễ hội, đồng thời đặt hoạt động khai thác trong một cấu trúc phát triển có kiểm soát và bền vững.
Trong quá trình chuyển hóa lễ hội truyền thống thành nguồn lực cho du lịch và kinh tế di sản, thách thức hiện nay không chỉ nằm ở việc thu hút du khách, mà ở khả năng tạo dựng những sản phẩm văn hóa giàu bản sắc, vừa nâng cao trải nghiệm vừa gìn giữ giá trị cốt lõi của di sản.
Những thay đổi đang diễn ra tại mùa lễ hội Xuân Bính Ngọ 2026 không còn là các hiện tượng đơn lẻ trong tổ chức hay quản lý lễ hội.
Trong bối cảnh cần đổi mới tư duy phát triển văn hóa hiện nay, lễ hội truyền thống đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng. Đó là từ không gian sinh hoạt tín ngưỡng mang tính cộng đồng trở thành nguồn tài nguyên văn hóa có khả năng tạo lập giá trị kinh tế.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN), TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viên Nghiên cứu Ứng dung Văn hóa - Du lịch nhấn mạnh một điểm tưởng như quen mà lại rất mới: phải nâng cao giá trị "thương hiệu biểu tượng" trong kinh tế di sản.
Thực tế ở nhiều điểm di sản cho thấy những vấn đề đáng lo ngại: quá tải khách, nghi lễ bị "sân khấu hóa", người dân bản địa hưởng lợi chưa tương xứng, nguồn tiền cho trùng tu thiếu ổn định. Và từ nhiều năm theo dõi, nghiên cứu, TS Trần Hữu Sơn đề xuất một "bộ công cụ" cụ thể để vừa gìn giữ di sản, vừa phát huy giá trị kinh tế một cách bền vững và công bằng.
Sau nhiều năm khảo cứu hiện trường và hệ thống hóa lý luận về di sản, TS Trần Hữu Sơn (Viện trưởng Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa - Du lịch) nhận thấy một nghịch lý dai dẳng: Kinh tế di sản vẫn thường bị xem như "phần phụ" của du lịch, khiến giá trị văn hóa nhiều khi bị thương mại hóa thô bạo và phân mảnh chính sách.
Trong bài trước, chúng ta đã nói về việc bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển bền vững kinh tế di sản.
Như kỳ trước đã nêu, du lịch di sản gồm du lịch tâm linh (du lịch tín ngưỡng), du lịch cội nguồn, du lịch trải nghiệm văn hóa, và các loại hình đi tham quan các bảo tàng, các di tích cổ, các địa điểm khai quật khảo cổ… Có thể nói đây là những "mỏ vàng" của du lịch.
Kinh tế di sản là ngành kinh tế có nhiều tính đặc thù. Vì vậy cần coi trọng tính đặc thù tác động đến thực tiễn và từ đó xây dựng các chính sách, giải pháp phù hợp.
Kinh tế di sản mới được hình thành ở Việt Nam trong những năm gần đây qua công trình của một số tác giả nghiên cứu kinh tế học về di sản.